Giày bảo hộ chọn theo mã ghi trên lưỡi gà, không theo kiểu dáng. Mọi đôi giày đạt chuẩn này đều có mũi chịu va đập 200 J. Phần khác nhau nằm ở cấp: S1 cho sàn khô, S2 chống thấm mũ giày, S3 thêm lót chống đâm xuyên và đế có gân. Bản 2021 tách P thành P, PL và PS.
Trên một đôi giày có những ký hiệu nào phải đọc?
Có ba chỗ in ký hiệu: lưỡi gà, thành giày và đế. Mã cấp nằm ở nhãn trong lưỡi gà, cùng tên tiêu chuẩn, cỡ và tháng năm sản xuất. Giả sử ba báo giá chênh nhau hai lần rưỡi; nhãn này cho biết phần chênh mua được phép thử nào.
Mũi 200 J là mức nền, không dùng để phân biệt hàng
Mũi chịu va đập 200 J là yêu cầu bắt buộc của tiêu chuẩn EN ISO 20345. Đôi SB và đôi S7 đều có. Giày chỉ đạt EN ISO 20347 thì không có mũi này.
Chuỗi ký tự sau mã cấp là các yêu cầu bổ sung
Sau mã cấp thường có HRO, CI, SR hoặc FO. Mỗi ký tự là một phép thử riêng. Không có ký tự thì không có phép thử đó.

BẢNG ĐỌC CẤP GIÀY BẢO HỘ THEO EN ISO 20345:2021
| Cấp | Mũi 200 J | Chống tĩnh điện A + hấp thụ gót E | Chống thấm mũ giày WPA | Lót chống đâm xuyên | Xưởng điển hình |
|---|---|---|---|---|---|
| SB | Có | Không bắt buộc | Không | Không | Khách tham quan, đi lại ngắn |
| S1 | Có | Có | Không | Không | Kho khô, lắp ráp điện tử |
| S1P | Có | Có | Không | Có, lót thép | Xưởng cơ khí sàn khô có phoi |
| S1PL | Có | Có | Không | Có, lót phi kim thử đinh lớn | Cơ khí cần giày nhẹ |
| S1PS | Có | Có | Không | Có, lót phi kim thử đinh nhỏ | Xưởng có mạt kim loại mảnh |
| S2 | Có | Có | Có | Không | Xưởng nhuộm, khu rửa sàn |
| S3 | Có | Có | Có | Có, kèm đế có gân | Xưởng cơ khí ướt, công trường trong nhà máy |
| S3L | Có | Có | Có | Có, lót phi kim thử đinh lớn, đế có gân | Như S3, cần nhẹ hơn |
| S3S | Có | Có | Có | Có, lót phi kim thử đinh nhỏ, đế có gân | Như S3, vật nhọn mảnh |
| S6 | Có | Có | Có | Không, nhưng chống nước cả đôi WR | Khu vực xịt rửa thường xuyên |
| S7 | Có | Có | Có | Có, đế có gân, chống nước cả đôi WR; kháng dầu chỉ khi ghi thêm FO | Xưởng ướt có dầu, khu xử lý nước thải |
Nguồn: EN ISO 20345:2021, bảng phân cấp theo tài liệu kỹ thuật uvex safety và BAAK.

KÝ HIỆU BỔ SUNG GHI SAU MÃ CẤP
| Ký hiệu | Ý nghĩa | Yêu cầu khi nào |
|---|---|---|
| WR | Chống nước cả đôi giày, không chỉ mũ giày | Sàn ngập nước, khu rửa |
| WPA | Chống thấm và hút nước của mũ giày, tên mới của WRU | Xưởng ẩm, nước bắn |
| FO | Đế ngoài kháng dầu nhiên liệu | Xưởng có dầu bôi trơn, dầu cắt gọt |
| HRO | Đế ngoài chịu tiếp xúc bề mặt nóng 300 độ C trong 60 giây | Gần lò, khu hàn |
| HI | Cách nhiệt nóng cho phần đế | Đứng trên sàn nóng |
| CI | Cách nhiệt lạnh cho phần đế | Kho lạnh |
| M | Bảo vệ mu bàn chân | Khu vực vật nặng rơi |
| AN | Bảo vệ mắt cá chân | Địa hình gồ ghề, kho ngoài trời |
| CR | Mũ giày chống cắt | Xưởng có lưỡi cắt, kính tấm |
| SC | Ốp mũi chống mài mòn | Công việc quỳ gối, kéo lê mũi giày |
| LG | Bám thang | Bảo trì trèo thang |
| SR | Chống trượt tăng cường ngoài phép thử nền | Sàn gạch men có nước xà phòng |
Nguồn: EN ISO 20345:2021 theo tài liệu kỹ thuật uvex safety, BAAK và Safety Jogger.
S1, S2, S3, S6 và S7 khác nhau ở đúng những điểm nào?
Mỗi cấp là cấp trước cộng thêm phép thử. S1 là nền cộng chống tĩnh điện và hấp thụ năng lượng ở gót. S2 thêm chống thấm nước mũ giày. S3 thêm lót chống đâm xuyên và đế ngoài có gân. S6 và S7 là S2 và S3 cộng chống nước cả đôi.
Giày bảo hộ S3 không cần cho mọi xưởng. S3 đáng tiền khi sàn vừa có nước vừa có vật nhọn.
S6 và S7 trước đây ghi là S2 WR và S3 WR. Giày chống nước cả đôi thường có màng, nên nóng hơn.
Mã cấp không nói gì về độ bền đế, tuổi thọ hay độ êm. Đế polyurethane hay cao su, mòn sau ba tháng hay một năm, chỉ biết khi cho công nhân đi thử.
Bài này dừng ở cách đọc mã, còn dải cỡ và các dòng đang có sẵn thì nằm ở trang bảo hộ chân cho nhà máy.
Ký hiệu P, PL và PS trong giày bảo hộ chống đinh có gì khác nhau?
Cả ba là lót chống đâm xuyên, khác nhau ở vật liệu và cây đinh thử. P là lót thép, thử bằng đinh 4,5 mm. PL là lót phi kim thử bằng đinh 4,5 mm. PS là lót phi kim thử bằng đinh 3 mm, nên chặn được vật nhọn mảnh hơn.
Lót thép che gần kín bàn chân nhưng nặng, dẫn nhiệt và làm giày cứng. Lót phi kim nhẹ, không kích cổng dò kim loại, nhưng vùng che có thể hẹp hơn ở mũi và gót.
Xưởng gia công thép SUS304 có mạt mảnh trên sàn nên chọn PS hoặc lót thép. Báo giá ghi “chống đinh” mà thiếu ký hiệu thì coi như chưa thử.
Bản EN ISO 20345:2021 đổi những gì so với bản 2011?
Bản 2021 đổi bốn điểm chính. WRU đổi tên thành WPA. P tách thành P, PL, PS. S6 và S7 xuất hiện. FO không còn nằm sẵn trong S1, S2, S3 mà thành yêu cầu bổ sung. Thêm SC cho ốp mũi và LG cho bám thang.
Chống trượt cũng đổi: ba mức SRA, SRB, SRC bị bỏ, phép thử trượt nền thành bắt buộc, SR dành cho mức tăng cường. Báo giá cũ và mới vì vậy không đối chiếu thẳng được.
Với giày bảo hộ chống dầu, đôi S3 không ghi FO thì chưa chắc đã thử kháng dầu.
Mua một lô giày từ nhà cung cấp không xuất trình được báo cáo thử nghiệm là khoản tiền mất khi audit, và bộ tiêu chí sàng lọc nằm ở bài đánh giá nhà cung cấp B2B.
Xưởng nào nên dùng cấp nào?
Chọn cấp theo sàn và theo vật rơi, không theo chức danh. Kho và lắp ráp khô ráo dùng S1 hoặc S1P. Xưởng dệt nhuộm và khu rửa sàn dùng S2 hoặc S3, cân nhắc S6. Xưởng cơ khí có phoi và dầu dùng S3 kèm FO, thêm HRO nếu đứng gần lò.
Ở VSIP Bình Dương hay Nhơn Trạch, một nhà máy thường có ba bốn loại sàn, nên một mã giày cho cả nhà máy là cách tốn tiền nhất.
Mua cấp cao hơn mức cần là tiền trả cho phép thử xưởng không dùng tới. Mua thiếu cấp là để đế trượt trên đúng loại sàn nguy hiểm nhất.
Một vị trí đứng máy hiếm khi chỉ cần giày, và cách phối đủ các nhóm bảo hộ cho một vị trí nằm ở bài bảo hộ lao động cho nhà máy.
Vì sao công nhân tháo giày ra hoặc dẫm bẹp gót?
Có ba nguyên nhân: sai cỡ, nóng chân trong xưởng không điều hoà, và giày quá nặng cho ca 8 tiếng đứng. Cả ba là lỗi chọn hàng, không phải lỗi ý thức, nên phạt không giải quyết được.
Sai cỡ bị bỏ qua nhiều nhất: nhà máy dệt may nhiều lao động nữ, dải cỡ nhỏ thường thiếu. Giày bảo hộ nữ là nhu cầu thật trong xưởng may. Giày bị dẫm bẹp gót thì mã trên lưỡi gà vô nghĩa.
Cũng phải nói thẳng: giày là món có tỉ lệ trả lại và đổi cỡ cao nhất trong nhóm bảo hộ. Đặt lô lớn theo bảng cỡ ước lượng gần như chắc chắn sẽ thừa cỡ giữa và thiếu hai đầu dải. Chúng tôi khuyên đo chân thật một nhóm mẫu trước khi chốt số lượng, chấp nhận chậm hơn một tuần. Nhà máy cần hàng gấp trong ba ngày thì nên mua ít, cỡ phổ thông, và chấp nhận đặt bổ sung đợt hai.
Cùng một xưởng nhuộm, phần thân lại có cách chọn theo mối nguy khác hẳn phần chân, và cách chọn đó nằm ở bài quần áo bảo hộ theo môi trường.
Nhà máy Hàn Quốc nên yêu cầu chứng nhận nào cho giày bảo hộ?
Nếu công ty mẹ yêu cầu chứng nhận phía Hàn Quốc, cần hỏi dấu KCs, không phải CE. KCs là dấu chứng nhận an toàn bảo hộ cá nhân do KOSHA quản lý. Chứng nhận EN không tự quy đổi sang KCs. Số hiệu quy chuẩn tương ứng: [CẦN XÁC MINH: số hiệu KCs cho giày an toàn, tra standard.go.kr và KOSHA].
Sẽ có người nói giày có dấu CE là công ty mẹ Hàn Quốc chấp nhận, và bảng đối chiếu EN ANSI JIS KS cho thấy lập luận đó hỏng ở phần chứng nhận KCs.
Khách hàng Mỹ đi audit thì hỏi ASTM F2413, không quy đổi một đổi một với hệ S1 tới S7.
BAMBUMRO là nhà phân phối vật tư MRO tại khu vực Đông Nam Bộ – Việt Nam, đại lý chính thức của Osborn và Loctite, phục vụ các nhà máy FDI trong ngành dệt may, cơ khí chính xác và điện tử.
Bước tiếp theoBAMBUMRO gom giày và các nhóm bảo hộ khác về một đầu mối, một công nợ. Nếu anh/chị muốn có con số xuất phát, chúng tôi dựng cùng HSE và kho bảng baseline 30 ngày, 5 chỉ số: số nhà cung cấp · số đơn mua mỗi tháng · số lần đặt khẩn trong 90 ngày · số giờ dừng chuyền do thiếu vật tư · giá trị tồn kho không luân chuyển trên 90 ngày. Một buổi 30 phút, không mất phí. → Đăng ký buổi rà soát tại bambumro.com/lien-he/ · One-stop. One Supplier. Zero Interruption. |
Câu hỏi thường gặp
Giày S1 và S3 chênh nhau ở đúng những gì?
Chênh ở ba phép thử. S3 có chống thấm nước mũ giày, lót chống đâm xuyên, và đế ngoài có gân. S1 không có ba thứ đó. Sàn xưởng luôn khô và không có đinh thì phần chênh giá của S3 không mua thêm được an toàn nào.
Lót chống đâm xuyên bằng thép và bằng vải kỹ thuật nên chọn loại nào?
Lót thép che gần kín bàn chân nhưng nặng, dẫn nhiệt và cứng. Lót phi kim nhẹ, không dẫn nhiệt, không kích cổng dò kim loại, nhưng vùng che có thể hẹp hơn. PL thử bằng đinh 4,5 mm, PS bằng đinh 3 mm. Xưởng có mạt kim loại mảnh nên ưu tiên PS hoặc lót thép.
Đôi giày an toàn dùng bao lâu thì phải thay?
Thay theo tình trạng, không theo lịch. Đôi giày hết vai trò khi gân đế mòn hết, mũi bị móp lộ vành thép, mũ giày rách tới lớp lót, hoặc gót bị dẫm bẹp không dựng lại được. Xưởng ướt có hoá chất làm tuổi thọ ngắn hơn định mức cấp phát.
Mã S3 SRC trên báo giá cũ có bằng S3 theo bản 2021 không?
Không đối chiếu thẳng được. SRA, SRB và SRC là ba mức chống trượt của bản 2011. Bản 2021 đưa phép thử trượt nền thành bắt buộc và dùng ký hiệu SR cho mức tăng cường. Hãy yêu cầu nhà cung cấp ghi rõ phiên bản tiêu chuẩn trên báo cáo thử nghiệm thay vì tự quy đổi.











